Giỏ hàng

LIỆU PHÁP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TÂM THẦN

LIỆU PHÁP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TÂM THẦN

1. Đại cương.

 Liệu pháp phục hồi chức năng tâm thần (PHCNTT) là một trong những liệu pháp quan trọng hàng đầu trong Tâm thần học, cũng như­ trong các chuyên ngành khác của Y học lâm sàng. Đây là những liệu pháp nhằm phục hồi chức năng cả về sức khoẻ thể chất lẫn cả về sức khoẻ tâm thần và tâm lý cho người bệnh.

Người bệnh có thể tham gia liệu pháp này một cách chủ động, tích cực hoặc tham gia một cách thụ động, lệ thuộc. Hiệu quả của liệu pháp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện môi trường, vào kinh nghiệm của thầy thuốc và nhất là vào tình trạng bệnh tật của người bệnh.

1.1. Định nghĩa:

+ Cho đến nay, chưa có được một định nghĩa hoàn chỉnh về liệu pháp PHCNTT. Một cách tương đối, có thể coi đây là những phương pháp điều trị, nhằm làm cho người bệnh, sau những tổn thất về chức năng tâm thần do bệnh tật, mau chóng bình phục sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tâm thần, sớm trở về với công việc, với xã hội.

+ Có thể định nghĩa cụ thể hơn, liệu pháp phục hồi chức năng thể chất và tâm thần là tổ hợp các phương pháp lao động, nghỉ ngơi, điều dưỡng nhằm mục đích điều trị. Sự phục hồi về mặt tâm thần được đánh giá bằng việc đưa được người bệnh trở về với xã hội, trở về với môi trường xung quanh, đưa họ trở về với vị trí ban đầu và tùy theo mức độ tổn thương về chức năng tâm thần mà đưa họ hoặc trở lại thực hiện những công việc trước đây đã làm, hoặc để họ làm những công việc mới, thích hợp hơn.

+ Liệu pháp này còn được gọi là liệu pháp tái thích ứng xã hội. Sivadon cho rằng: liệu pháp phục hồi chức năng tâm thần là biện pháp sử dụng tất cả các hoạt động và khả năng sáng tạo của người bệnh mà y học cho phép trong điều trị để khôi phục lại sự giao tiếp bình thường, đúng mức của họ với thế giới xung quanh.

1.2. Phân loại các biện pháp phục hồi:

1.2.1. Lao động liệu pháp:

Bao gồm các hoạt động lao động khác nhau, có tác dụng điều trị. Sự phân biệt giữa lao động liệu pháp và lao động nghề nghiệp là dựa vào yêu cầu về thời gian làm việc và nhất là xem lao động đó có hướng vào mục đích điều trị hay không? Khi chỉ định liệu pháp lao động cần tính đến tình trạng sức khoẻ, đặc điểm bệnh tật của người bệnh.

1.2.2. Liệu pháp văn hoá:

Trong đó các hoạt động văn hoá-giáo dục được sử dụng vào mục đích điều trị.

1.2.3. Nghỉ ngơi, giải trí liệu pháp:

Gồm các trò chơi giải trí và các trò chơi thể thao, nhằm mục đích mở rộng các hứng thú, sở thích và tăng thêm sự thích nghi với môi trường của người bệnh.

1.2.4. Luyện tập thân thể liệu pháp:

Bao gồm những luyện tập cơ thể như luyện tập chuyên biệt, luyện tập nghỉ ngơi và luyện tập giải trí.

Ngoài ra còn có một số liệu pháp phục hồi khác, có tác dụng trên những bệnh chuyên biệt.

2. Vài nét về lịch sử.

 Liệu pháp PHCNTT trong y học thực hành được bắt đầu bằng những tập tục thiếu khoa học (đến nay, một số tập tục này vẫn còn tồn tại), qua quá trình thực hiện, dần dần trở thành một khoa học độc lập.

 Những năm đầu của thế kỷ XX, Simon đã nêu ra nguyên tắc lao động cho tất cả bệnh nhân không bị các tổn thương thực thể gây trở ngại. Từ những công việc cụ thể của nghề nghiệp, người thầy thuốc nêu ra những kết quả tối ưu cần đạt được và yêu cầu bệnh nhân thực hiện. Qua từng bước hoàn thành công việc, trạng thái tâm thần của người bệnh cũng tốt dần lên. Song có một điều đáng tiếc là Simon lại cho lao động liệu pháp không phụ thuộc vào trạng thái bệnh lý, không cần chỉ định theo từng bệnh cụ thể và không cần lý giải về hiệu quả tác động của liệu pháp phục hồi chức năng đối với các rối loạn tâm thần cấp tính.

 Schneider đã nâng liệu pháp hồi phục thành một trong những phương pháp chữa bệnh hàng đầu trong lâm sàng tâm thần. Ông còn nhấn mạnh rằng, các rối loạn tâm thần có thể điều trị khỏi được bằng các liệu pháp lao động. Một trong những cơ sở xây dựng nên trường phái của ông là sự phân tích tâm lý. Một số trường phái của Mỹ cũng xây dựng theo quan điểm này.

 Hạt nhân của quá trình điều trị và thích ứng môi trường là sự điều chỉnh, mà Simon đánh giá là loại cơ thể hoàn thiện nhất. Ông rất coi trọng vai trò của yếu tố môi trường và sự trưởng thành của tập thể nhân viên y tế trong sử dụng liệu pháp PHCNTT cho người bệnh. Song ông lại không tính đến yếu tố sinh lý bệnh khi chỉ định dùng liệu pháp này.

 Có thể nói rằng, các cơ sở để tiến hành liệu pháp PHCNTT đều liên quan đến liệu pháp tâm lý. Một điều hiển nhiên là, liệu pháp PHCNTT không những duy trì yếu tố cơ học trong hoạt động và cuộc sống của người bệnh, mà còn tạo ra niềm vui, sự yên tĩnh. Chính những yếu tố tích cực này mang tác dụng điều trị cho người bệnh.

Hiện nay việc nghiên cứu và ứng dụng liệu pháp PHCNTT trong y học lâm sàng đã có những bước tiến bộ to lớn.

 3. Các liệu pháp phục hồi chức năng tâm thần.

3.1. Lao động liệu pháp:

Lao động là điều kiện cơ bản của đời sống con người. Lao động được sử dụng thành phương pháp điều trị người bệnh là vì, trước hết, nó mang một  ý nghĩa to lớn trong sự phát triển cơ thể con người. Nó có khả năng tác động vào tính tích cực của vỏ não, có khả năng tạo ra những xúc cảm cơ bản như sự yên tĩnh, thoải mái,... và đặc biệt là liệu pháp lao động còn mang ý nghĩa về sự phát triển, sự thích nghi xã hội của người bệnh.

Một trong những yêu cầu to lớn của lao động liệu pháp là các công cụ lao động và cơ sở lao động phải hoàn thiện. Khi hoạt động với các công cụ là con người học hỏi, "bóc tách" cho mình những tinh hoa mà loài người gửi gắm vào trong mỗi công cụ đó. Cần nhấn mạnh một điều là, không phải lao động liệu pháp nào cũng đạt được hiệu quả hồi phục sức khoẻ cho người bệnh ngay từ đầu. Có những công việc được thực hiện nh­ những hoạt động "vô bổ", nhưng cốt là để lấp đầy khoảng trống thời gian của người bệnh. Cũng có những lao động lúc mở đầu như những công việc không trực tiếp liên quan đến mục đích điều trị  song khi hoàn thành, người bệnh lại sớm có được những hiểu biết về công việc và rất nhanh chóng hoà nhập vào cuộc sống xã hội.

Những hoạt động trong lao động liệu pháp có thể là:

¨ Lao động giản đơn:

+ Trước hết phải kể đến các loại lao động giản đơn, như lao động chân tay, mà trong đó năng suất lao động hoàn toàn có thể đạt được nhờ những công cụ đơn giản. Thí dụ như­ công việc may vá, thêu thùa, may mạng, đan lát, ... Những công việc như­ dùng bẹ ngô hay vải vụn để bện, để may, dùng đất hay chất dẻo để nặn ra những đồ vật, con thú theo những chủ đề nhất định là những lao động vừa nhẹ nhàng, thích hợp với bệnh nhân, vừa có hiệu quả điều trị rất cao.

+ Bằng những lao động liệu pháp này, người bệnh có thêm các hứng thú và sớm thực hiện được những công việc phức tạp, nhanh chóng hoà nhập vào cuộc sống xã hội, nhất là khi họ hoạt động trong các nhóm và tập thể tiến bộ.

+ Khi sinh hoạt trong các cơ sở điều trị, các thầy thuốc phải lập kế hoạch và hướng dẫn bệnh nhân phân bổ cân đối các hoạt động vào những công việc thường ngày như giặt giũ, nấu n­ớng, nội trợ và các công việc lao động tay chân khác.

¨ Lao động có kỹ thuật:

+ Một số cơ sở điều trị, có thể tổ chức cho bệnh nhân lao động nông nghiệp, làm vườn, làm công việc hành chính và nhất là thực hiện các công việc của những người thợ.

+ Một số bệnh nhân thực hiện liệu pháp PHCNTT bằng nghề thợ mộc. Họ sử dụng các công cụ đục, đẽo, c­a, bào, để chạm khắc gỗ, tạo ra những đồ chơi, làm các đồ dùng đơn giản bằng gỗ như bàn, ghế, thước kẻ, lược, ...

+ Có liệu pháp PHCNTT bằng nghề thợ dệt. Người bệnh dệt các loại thảm bằng đay, bằng vải vụn, dệt chiếu, dệt khăn, dệt vải, ...

+ Có thể xếp vào nhóm này, các hoạt động nghệ thuật như thiết kế, xây dựng, tạo mốt, vẽ tranh, chụp ảnh, làm đồ gốm, ...

+ Người bệnh có thể làm theo các nghề cũ hoặc học làm những nghề mới. Có người làm nghề chuyên nghiệp và cũng có người làm các nghề lặt vặt, phụ việc.

+ Phần lớn các lao động liệu pháp được thực hiện trong các cơ sở điều trị. Song cũng có những liệu pháp thực hiện bên ngoài bệnh viện, như liệu pháp lao động ở các công xưởng, nhà máy, xí nghiệp, công trường, ở các nông trang, nông trường, chăm sóc các công việc gia đình ở nơi gần gũi với cuộc sống thường ngày của người bệnh.

+ Trong những trường hợp này, chỉ định điều trị tùy thuộc vào trạng thái thực thể và tâm thần của từng người bệnh.

+ Khi lựa chọn các liệu pháp lao động, bên cạnh việc coi trọng hiệu quả điều trị, cũng cần phải tính đến hiệu quả kinh tế.

+ Tập làm các công việc hành chính cũng là một loại liệu pháp PHCNTT, mà trong đó những yêu cầu về sự xếp đặt ngăn nắp, gọn gàng được đặt lên hàng đầu. Trong thực tế, có những loại lao động tưởng như xa lạ, không có tác dụng điều trị, nhưng khi thực hiện, lại đem lại những khả năng điều trị to lớn, không ai thấy hết được.

+ Mỗi nhóm lao động có một khuynh hướng riêng. Trong từng nhóm, giữa những người bệnh có thể nảy sinh những khuynh hướng trái ngược nhau. Sự học hỏi giữa các nhóm và giữa những người cùng nhóm có tác dụng điều trị rất tốt.

+ Trong liệu pháp lao động còn có sự tự giáo dục. Qua đó, người bệnh tự điều chỉnh lại những yếu tố không phù hợp với môi trường xung quanh và khơi dậy những tiềm năng tốt đẹp vốn có cho mình.

3.2. Liệu pháp văn hoá-giải trí: 

Thực hiện liệu pháp PHCNTT bằng văn hoá-giải trí là sự bổ sung cần thiết cho các phương pháp chính, điều trị các rối loạn tâm thần . Liệu pháp này thường được sử dụng để chống lại các trạng thái tâm thần "tự động", cũng như­ các bệnh TTPL có nhân cách và tư duy "khép kín" và nâng cao hiệu quả của liệu pháp lao động.

Tầm quan trọng của liệu pháp này, còn được nhấn mạnh trong các lập luận về sự cần thiết phải duy trì các hoạt động nghỉ ngơi, trò chuyện và trao đổi kiến thức cho cả người bệnh cũng như­ cho gia đình bệnh nhân.

Trạng thái tâm thần "tự động" và "khép kín", thích sống một mình, sống với nội tâm, tự kỷ sẽ rất nguy hiểm không chỉ cho bệnh nhân mà cả cho những người xung quanh và cho cả xã hội khi bệnh nhân ra viện, vượt khỏi tầm kiểm soát của các nhà chuyên môn và không được những người xung quanh thường xuyên theo dõi, giúp đỡ.

Liệu pháp nghỉ ngơi - giải trí bao gồm các loại sau:

¨ Tổ chức các trò chơi:

+ Các trò chơi mà trong đó người bệnh hoặc là trực tiếp tham gia một cách tích cực, hoặc là đóng vai trò là khán giả, xem người khác chơi.

+ Những bệnh nhân có trạng thái ức chế cần được đưa vào các trò chơi của nhóm những người hoạt bỏt.

¨ Tổ chức các cuộc dạo chơi:

+ Các cơ sở điều trị cần tổ chức cho bệnh nhân các cuộc đi dạo chơi, đi tham quan để giải trí hoặc để nhớ lại các địa danh đã từng đi qua.

+ Tổ chức các đợt đi thực tế để người bệnh gắn bó với đời sống, gắn bó với những gì mà sau khi ra viện họ sẽ gặp.

¨ Tổ chức các cuộc trò chuyện:

+ Có thể tổ chức các buổi tuyên truyền, giới thiệu, nói chuyện chuyên đề, mà trong đó người bệnh được bàn bạc, học hỏi và bổ sung thêm cho mình các kiến thức mà bệnh nhân hứng thú, hiểu biết.

+ Qua đó người bệnh thực hiện các liệu pháp PHCNTT và vượt qua những ràng buộc của bệnh tật.

¨ Tổ chức chiếu phim:

+ Khi sử dụng phim ảnh trong liệu pháp PHCNTT cần chú ý chọn các phim có nội dung phong phú, hướng về tương lai, tránh những phim có nội dung xấu, gắn với những phim buồn, tàn lụi, bế tắc.

+ Nên chọn những phim ngắn, mang tính chất giải trí, nhất là đối với những bệnh nhân cấp tính.

¨ Tổ chức biểu diễn văn nghệ:

Có thể dùng hình thức sân khấu, nhà hát, mà trong đó người bệnh tham gia với t­ư cách là diễn viên hoặc là khán giả. Thích hợp với bệnh nhân hơn cả là nhà hát múa rối. 

¨ Liệu pháp âm nhạc:

+ Trong âm nhạc liệu pháp, trước hết, cần phát huy tác dụng của âm nhạc lên cảm xúc, tình cảm của người bệnh.

+ Các điệu nhảy hiện đại, cũng như­ các điệu múa dân tộc, các điệu múa tập thể trực tiếp tạo nên những vận động tích cực cho người bệnh.

+ Ca hát cũng là hình thức có tác dụng điều trị rộng rãi nhất

¨ Tổ chức lên chùa, đến nhà thờ:

+ Một số cơ sở điều trị, với những điều kiện nhất định, còn tiến hành liệu pháp "tụng kinh".

+ Khi sử dụng liệu pháp này, cần hết sức chú ý khâu lựa chọn nội dung các bài đọc cho người bệnh, đảm bảo đúng với mục đích và chỉ định điều trị, vừa giải toả được các triệu chứng và hội chứng bệnh lý, vừa phù hợp mức độ và tình trạng nặng, nhẹ, những khó khăn của người bệnh.

+ Liệu pháp này được coi là liệu pháp sau cùng, trong số các loại liệu pháp điều trị PHCNTT.

+ Cũng cần phải chú ý trước những hậu quả do tự thân của liệu pháp này gây ra, tránh lạm dụng quá mức, gây nên tác dụng xấu và làm nặng nề thêm các rối loạn tâm thần của người bệnh.

3.3. Liệu pháp luyện tập thân thể:

+ Liệu pháp thể dục, thể thao vừa có tác dụng làm hồi phục thể lực, vừa tạo ra tâm lý hứng thú cho người bệnh. Nó khơi dậy sự tập trung chú ý vốn có mà ở các hoạt động khác khó có khả năng tạo ra. Cũng tương tự nh­ lao động liệu pháp, liệu pháp luyện tập thân thể trực tiếp tác động lên cơ quan vận động, làm lưu thông khí huyết.

+ Liệu pháp luyện tập thân thể bao gồm nhiều loại hoạt động khác nhau, từ những bài tập đơn giản như­ tập thở, đi bách bộ, tập chạy, các bài tập thể dục buổi sáng, thể dục nhịp điệu, ... đến các bài tập phức tạp, các môn thể thao chuyên nghiệp như­ bóng đá, đua ngựa, đua xe mô tô, đua xe ô tô, đua thuyền,...

+ Khi thực hiện liệu pháp luyện tập thân thể, cần lập một kế hoạch tỉ mỉ và chặt chẽ phải tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc vừa với sức khoẻ người bệnh.

+ Liệu pháp này có thể thực hiện riêng cho từng cá nhân hoặc luyện tập theo nhóm, có thể theo sự hướng dẫn trực tiếp của thầy thuốc và huấn luyện viên hoặc tập qua sự hướng dẫn của băng hình video, vô tuyến truyền hình hoặc băng nhạc,...

4. Chỉ định và chống chỉ định của liệu pháp phục hồi chức năng.

+ Để chỉ định thực hiện liệu pháp PHCNTT trong lâm sàng tâm thần, trước hết phải căn cứ vào những triệu chứng chính, nổi bật của các rối loạn tâm thần.

+ Tiếp theo sau là phải tính đến những sự hứng thú và mức độ hiểu biết của người bệnh (được xác định thông qua những t­ư liệu về tiền sử, bệnh sử và kết quả khám xét lâm sàng ). 

+ Các hoạt động được chỉ định phải có tác dụng chống lại những biến đổi bệnh lý, hạn chế sự phát triển rối loạn tâm thần và bù đắp sức khoẻ cho người bệnh.

+ Để điều trị các rối loạn hành vi, như khi bị ức chế, cần chỉ định tiến hành các hoạt động lao động, thể dục, thể thao, nhằm chống lại các vận động tự động. Những biểu hiện hoang tưởng, ảo giác sẽ thuyên giảm khi người bệnh tập trung chú ý vào các hoạt động của liệu pháp điều trị.

+ Thể thức của liệu pháp PHCNTT là không được tăng thêm những gánh nặng của bệnh lý. Thí dụ, với những nét bệnh lý "tự động", "rập khuôn", không được chỉ định các hoạt động liệu pháp điều trị PHCNTT rập khuôn, đơn điệu. Vì chính những hoạt động này làm tăng thêm những nét bệnh lý, làm tăng tình trạng rối loạn ý thức và rối loạn trầm cảm, làm mất định hướng, gây sợ hãi, hoảng sợ,...

+ Với các bệnh riêng biệt, thí dụ như­ các rối loạn trầm cảm, cần phải sử dụng các hoạt động làm vượng lên những cảm xúc trống vắng hẫng hụt, nh­ư cảm xúc tự buộc tội, tự ti của người bệnh.

+ Với những bệnh nhân TTPL điển hình, cần phải thực hiện liệu pháp hồi phục chức năng trong tập thể, để qua đó, họ tiếp xúc với xã hội, với xung quanh được tốt hơn.

+ Trong điều trị hồi phục những bệnh nhân chậm phát triển tâm thần, thường sử dụng các hoạt động làm tăng sự ham thích, duy trì những cảm nhận về trách nhiệm, nêu cao khả năng tự đánh giá, tự phê phán, tự nhận xét.

+ Dành cho những người bệnh sa sút trí tuệ hoặc mất trí là những liệu pháp "học tập trong nhà trường" và tạo ra các thói quen tự phục vụ những nhu cầu thiết yếu trong đời sống hàng ngày.

+ Do tham gia lao động liệu pháp mà sự mẫn cảm với kích thích và tính "mất trật tự", tính ích kỷ, tham lam, tính hằn học trả thù vặt, tính cách bùng nổ của bệnh nhân động kinh giảm đi.

+ Liệu pháp phục hồi có tầm quan trọng đặc biệt trong điều trị các rối loạn tâm căn, rối loạn dạng cơ thể. Với những bệnh nhân này, các hoạt động liệu pháp PHCNTT để điều trị cần liên tục nâng cao sự ham thích, tăng dần các mức độ khó khăn, cho đến khi người bệnh đạt được những năng suất làm việc như trước khi bị bệnh.

+ Cuối cùng, cần nhấn mạnh rằng, cũng có lúc, trạng thái tâm thần của người bệnh cần đến những ức chế bảo vệ. Khi đó, phải tính đến một cách đầy đủ hiệu quả tác động của từng liệu pháp PHCNTT để nêu ra những chống chỉ định thích đáng. Các bệnh thực thể là những chống chỉ định tương đối và các hoạt động được chỉ định phải nhằm sửa lại các trạng thái bệnh lý hiện tại của người bệnh.

5. Tổ chức liệu pháp phục hồi chức năng trong lâm sàng Tâm thần.

+ Cũng như­ các phương pháp điều trị khác trong lâm sàng tâm thần, liệu pháp phục hồi chức năng tâm thần trước hết được thực hiện trên từng người bệnh riêng biệt. Khi tiến hành trên từng người cũng cần phải xác định phương pháp cụ thể và lập kế hoạch điều trị chu đáo, đánh giá kịp thời tác động của liệu pháp đối với từng trạng thái bệnh lý.

+ Có nhiều trường hợp phải thực hiện liệu pháp PHCNTT theo nhóm. Các nhóm thường được tổ chức đơn giản, không lớn quá, khoảng 6-7 người. Nhóm càng nhỏ thì tác động của liệu pháp lên từng cá nhân càng có kết quả tốt.

+ Trong nhóm hình thành mối quan hệ qua lại giữa nhóm trưởng với nhóm viên và giữa các thành viên trong nhóm với nhau. Đôi khi với chức năng của mình, nhóm trưởng có tác động rất tốt đến những bệnh nhân là nhóm viên. Thực chất của liệu pháp nhóm cũng là tiến hành điều trị hồi phục cho từng nhân cách, cho từng cá nhân.

+ Trong nhóm đó diễn ra sự hình thành và củng cố những quan hệ xã hội tích cực. Các thành viên tin tưởng vào kết quả điều trị, tiếp thu tốt hơn những quan niệm, thái độ mới, xây dựng những mối quan hệ gắn bóvà có những hoạt động hỗ trợ lẫn nhau trong sinh hoạt.

+ Trong nhóm cũng nảy sinh hiện tượng các thành viên kiểm tra lẫn nhau, bổ sung cho nhau và giúp nhau duy trì cảm xúc và trách nhiệm để thực hiện kết quả công việc.

+ Một liệu pháp PHCNTT không thể thiếu và trong chừng mực nhất định, có khi còn tác động lên cả các liệu pháp khác, đó là các chế độ chuyên môn hàng ngày. ở đây, các liệu pháp hồi phục chức năng được thực hiện theo một trình tự thống nhất, hợp lý.

+ Chương trình liệu pháp PHCNTT của người bệnh hướng vào các hoạt động thiết thực, với mục đích giúp cho họ sẵn sàng trở lại cuộc sống thường ngày và nhanh chóng thích ứng với những công việc sắp tới.

+ Chương trình hàng ngày đối với những bệnh nhân cấp tính (để duy trì sự yên tĩnh của các trạng thái dễ kích động) cần phải chú ý trước hết đến sự nghỉ ngơi và loại bỏ những hoạt động không cần thiết.

+ Khi thực hiện các biện pháp điều trị trạng thái cấp tính, phải chú ý sửa đổi các chương trình hàng ngày cho phù hợp với tình trạng bệnh tật và nhằm hỗ trợ thiết thực cho các liệu pháp chính.

+ Đối với những bệnh nhân phải điều trị lâu dài hoặc bị những bệnh không thể điều trị khỏi hoàn toàn, thì các chương trình trong ngày phải chịu những ảnh hưởng nhất định của tất cả các liệu pháp hồi phục chức năng khác.

+ Trong Tâm thần học còn sử dụng các liệu pháp thực hiện công việc hàng ngày của người "nhân viên phục vụ", "nhân viên nhà trường". Trong các liệu pháp này, người bệnh sắm vai "nhân viên" nhằm:

- Phải chăm lo việc quản lý quá trình thực hiện liệu pháp hồi phục chức năng cá nhân và nhất là liệu pháp nhóm.

- Phải có những lời khuyên để duy trì sự tồn tại của nhóm.

- Phải giúp cho việc lựa chọn bệnh nhân thực hiện liệu pháp hồi phục chức năng.

- Phải quan tâm đến việc tạo môi trường thuận lợi để tiến hành liệu pháp hồi phục chức năng.

- Người bệnh ở đây, phải tổ chức thực hiện các hoạt động thống nhất, phải hướng trung tâm chú ý vào chính người bệnh.

- Phải ghi chép, truyền đạt thông tin cho thầy thuốc, thu thập các tài liệu cần thiết, quan tâm đến công tác kiểm kê và sự hợp tác với các nhân viên phục vụ chính thức.

- Cần phải khen thưởng những bệnh nhân hoàn thành tốt công việc được giao. Đây cũng là cơ hội, là biện pháp điều trị. Phương pháp điều trị ở đây là dùng phần thưởng để "đánh thức" người bệnh.

- Phần thưởng có thể bằng tiền, có thể bằng hiện vật. Đôi khi phần thưởng trở thành một kích thích mạnh mẽ. Nó khiến cho người bệnh phải cân nhắc, tính toán, tìm những biện pháp thích hợp để thực hiện công việc có kết quả và để giành được phần thưởng. Phần thưởng còn là sự đánh giá tiến bộ trong điều trị của cá nhân người bệnh.

+ Ngoài các nơi chuyên dùng điều trị và các bệnh phòng, liệu pháp PHCNTT còn được tiến hành ở những địa điểm thuận tiện, thích hợp khác, trong khoa tâm thần của bệnh viện. Liệu pháp hồi phục chức năng trong các khoa này có những đặc điểm riêng. Kế hoạch tiến hành trong thời gian ngắn hơn và chỉ là liệu pháp bổ trợ cho các phương pháp điều trị chính.

+ Trong các cơ sở điều trị tâm thần chuyên biệt, liệu pháp hồi phục có thể được phát triển với đầy đủ các nội dung, kế hoạch được xây dựng toàn diện và thường diễn ra trong một thời gian dài. Thông thường, ở các cơ sở điều trị này, liệu pháp hồi phục chức năng được thực hiện như những liệu pháp chính và nó còn có sự hợp tác của các cơ sở bên ngoài bệnh viện.

+ Trước khi cho bệnh nhân ra viện, cần phải yêu cầu họ tiếp tục thực hiện liệu pháp hồi phục chức năng. Có thể giới thiệu họ đến các trung tâm điều trị phục hồi chức năng, hoặc đến các cơ sở điều trị chuyên biệt.

+ Liệu pháp hồi phục chức năng sau khi ra viện tiếp tục được tiến hành như khi ở trong các cơ sở điều trị. Người bệnh lúc này thực hiện các công việc và làm nhiệm vụ như những nhân viên tiến hành liệu pháp phục hồi chức năng.

6. Cơ chế tác dụng của liệu pháp hồi phục chức năng tâm thần.

+ Liệu pháp PHCNTT có cơ sở chủ yếu là sinh lý và tâm lý liệu pháp. Sự tác động của nó, trước hết là thông qua cơ chế sinh lý thần kinh. Những tín hiệu được tạo ra khi tiến hành liệu pháp hồi phục chức năng sẽ làm tăng hoạt tính của vỏ não.

+ Qua phân tích tích cực, trên vỏ não hình thành ổ hưng phấn và xung quanh nó, các quá trình ức chế cũng được tạo ra. Các ức chế này lan toả sang các vị trí có những xung động bệnh lý đang vượng lên làm suy giảm hiệu quả tác động của chúng.

+ Sự tạo thành các đường liên hệ tạm thời mới, thay vào các liên hệ bệnh lý, đã chuyển tác động của quá trình liệu pháp hồi phục chức năng tới động thái của vỏ não và đã tác động trực tiếp vào tình trạng mất cân đối của hoạt động vỏ não.

+ Nhờ sự nỗ lực củng cố và điều chỉnh sức khoẻ của cơ thể và sự hỗ trợ của liệu pháp hồi phục chức năng mà người bệnh vượt qua được bệnh tật, tạo nên những hình thái chức năng và sức khoẻ mới.

+ Điều trị bằng lao động trước hết tác động tích cực lên cơ quan vận động và sau đó, phần ít hơn, là tác động lên các cơ quan phân tích thính giác và thị giác là những cơ quan phân tích hệ thống tín hiệu thứ nhất.

+ Ngoài sự tác động theo cơ chế sinh lý thần kinh, còn phải kể đến những hiệu quả tác động theo cơ chế sinh lý, tác động lên sự linh hoạt, lên hệ thống cơ, mạch máu cũng như­ lên toàn bộ con người. Thái độ đối với lao động, sự phấn khởi và niềm vui về kết quả lao động có tác dụng kích thích như hệ thống tín hiệu thứ hai.

+ Theo Giliarovsky: liệu pháp hồi phục chức năng làm tích cực hoá sức khoẻ tâm thần của người bệnh. Nó giải phóng những cảm xúc bị dồn nén, lôi cuốn sự chú ý của người bệnh ra khỏi những biểu hiện bệnh lý. Và như vậy, người bệnh sẵn sàng tiếp nhận nhiệm vụ mà họ có khả năng tự giải quyết, họ bình thường hoá trở lại những ý nghĩ, hành vi bị tổn thương của mình.

+ Liệu pháp hồi phục chức năng có tác dụng làm thay đổi tính linh hoạt của người bệnh, làm thúc đẩy lòng ham muốn, thích làm việc, thích luyện tập của họ. Nó khơi dậy những hứng thú mới và duy trì ổn định những hứng thú này.

+ Nó làm cho người bệnh học hỏi thêm những hoạt động sáng tạo mới, đem lại cho họ những ý nghĩa của sản phẩm tạo ra, những niềm vui khi làm xong công việc.

+ Liệu pháp phục hồi chức năng còn tạo ra cho người bệnh những thái độ đúng đắn đối với lao động và đối với sản phẩm mà họ làm ra. Sự tiếp xúc trong lao động, sự tham gia vào tập thể sẽ giúp cho người bệnh giao tiếp trong cộng đồng, thích ứng trong môi trường xã hội tốt hơn.

+ Ngoài những cơ chế cơ bản của sinh lý học, liệu pháp hồi phục chức năng còn dựa vào những cơ chế tác động khác, cũng không kém phần quan trọng, như cơ chế tâm lý học, xã hội học, ...