Giỏ hàng

CẤP CỨU TÂM THẦN

CẤP CỨU TÂM THẦN

 

1. Khái niệm chung.

Cấp cứu tâm thần được thể hiện bởi các biểu hiện nhận thức và hành vi mà những biểu hiện đó cần sự can thiệp y tế với những biện pháp nhanh. Cấp cứu tâm thần đặt ra vài vấn đề đặc biệt liên quan đến biểu hiện lâm sàng của cơ thể và tâm thần cũng như các lĩnh vực pháp y trong hầu hết các tình huống. Vấn đề quan trọng nhất trong cấp cứu tâm thần là loại trừ nguyên nhân thực tổn.

Về mặt này, bác sỹ có thể tránh được các sai lầm trong chẩn đoán mà các sai lầm đó có thể dẫn đến các biến chứng nặng nề thậm trí làm chết bệnh nhân. Các thông tin về bệnh nhân đặt ra trong tình huống cấp cứu tâm thần bao gồm:

  • Lý do vào viện.
  • Các chất kích thích gây khởi phát trạng thái bệnh lý tâm thần.
  • Tiền sử bệnh tâm thần của bệnh nhân.
  • Bệnh thực thể mà bệnh đó có thể giải thích được triệu chứng.
  • Bệnh nhân có sử dụng chất gây nghiện hoặc các thuốc.
  • Mức độ nhận thức xã hội, nghề nghiệp trước khi bị bệnh của bệnh nhân

         Các tình huống bệnh lý tâm thần chính thể hiện trong một cấp cứu tâm thần là:

  • Tự sát.
  • Trạng thái rối loạn ý thức
  • Trạng thái kích động tâm thần vận động
  • Bạo lực

Trong đa số các trường hợp, bệnh nhân mất khả năng cung cấp các thông tin liên quan đến các vấn đề của họ (hoặc là không thể hoặc là thù địch) đó là lý do mà bác sỹ phải cẩn thận thu lượm thông tin từ những người mang bệnh nhân đến (gia đình, xe cấp cứu, công an). Trong các trường hợp thiếu thông tin, chẩn đoán được đặt trên cơ sở quan sát hành vi, khám tâm thần và khám cơ thể.

 

2. Tự sát

2.1 Nguyên nhân của tự sát.

Tự sát là hay gặp nhất trong cấp cứu tâm thần, được cho rằng là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 8. Trong đa số các quốc gia đã xác định được tỷ lệ tự sát trong năm tăng dần. Trong năm 1986, ở Mỹ đã ghi nhận được 20000 trường hợp tự sát, nhưng năm 1996 đã có tới 30000 trường hợp.

Vai trò của bác sỹ là tìm kiếm các trường hợp có tiềm năng tự sát. Các nguyên nhân của tự sát là rất phức tạp và có thể được phân loại thành:

  Nguyên nhân xã hội.                                                                     

  • Nguyên nhân từ nhân cách của người bệnh.
  • Nguyên nhân y học.

Nguyên nhân xã hội.

  • Ảnh hưởng của các yếu tố xã hội, văn hoá trong tự sát là sự hy sinh để xã hội được tốt hơn, được biết dưới cái tên tự sát vị tha.
  • Sự tách biệt với xã hội.
  • Mất các mối quan hệ xã hội, vật chất hoặc nghề nghiệp.
  • Mất người thân.

Tự sát "có lý" là tự sát thực sự của những người khoẻ mạnh về mặt tâm thần, nhưng họ quyết định trong tình huống mà họ gặp phải là không tiếp tục tồn tại. Trong tiêu chẩn này tự sát được biểu hiện bởi một số bệnh nan y.

Nguyên nhân y tế.

          95% tổng số các trường hợp tự sát là có rối loạn tâm thần, ít nhất là tại thời điểm tự sát. Trong đó hay gặp nhất là trầm cảm, nghiện rượu, tâm thần phân liệt, lo âu, rối loạn nhân cách.

          Trong bệnh trầm cảm, nguy cơ tự sát là cao khi có hoang tưởng hoặc ảo thanh có nội dung tự phê phán.

          Trong TTPL, nguy cơ lớn nhất gặp trong thể Paranoid, trong đó tự sát có thể là:

  • Thứ phát của ảo thanh ra lệnh.
  • Thứ phát của trầm cảm.
  • Phản ứng của trạng thái rối loạn ý thức.
  • Không giải thích được, kỳ dị.

Trong các bệnh tâm thần khác, nguy cơ tự sát cao khi có ảo thanh ra lệnh.

Thừa nhận các yếu tố của nguy cơ tự sát là rất quan trọng cho việc ngăn chặn tự sát. Tự sát có thể xuất hiện ở TTPL bất cứ khi nào, trong thời gian phát triển của bệnh, nhưng thường xuyên hơn ở pha cấp tính (78%), có một tỷ lệ 67% các trường hợp có phối hợp với các triệu chứng trầm cảm. 3/4 các trường hợp có toan tự sát trong tiền sử. Giống như vậy, có một tỷ lệ tự sát cao ở phụ nữ TTPL.   Rối loạn nhân cách là một yếu tố nguy cơ của tự sát. Thường gặp nhất trong rối loạn nhân cách là rối loạn nhân cách thể gianh giới và rối loạn nhân cách thể phụ thuộc. Nguy cơ tự sát cao trong các trường hợp rối loạn nhân cách có phối hợp với nghiện rượu hoặc lạm dụng chất gây nghiện, hoặc ở bệnh nhân sống trong môi trường đầy bạo lực và thiếu đáp ứng cho cuộc sống.

Lạm dụng rượu và chất gây nghiện.

Tỷ lệ tự sát ở người nghiện ma tuý và rượu lớn hơn ở nhân dân nói chung (15% tổng số người nghiện rượu chết vì tự sát). Trạng thái rối loạn ý thức là nguy cơ cao của tự sát, nhưng trong các trường hợp này tự sát không phải là hành vi cẩn thận, mà trong đa số các trường hợp sự mất định hướng và những rối loạn cảm giác của bệnh nhân đã gây ra tai nạn cho chính họ.

2.2. Các yếu tố khác làm tăng nguy cơ của tự sát.

  • Tuổi - tự sát hay gặp nhất ở tuổi sau 45.
  • Giới- tỷ lệ tự sát ở nam giới cao hơn nữ giới nhưng toan tự sát xảy ra ở nữ giới thường xuyên hơn.
  • Tình trạng hôn nhân - nguy cơ cao hơn ở những người không có gia đình hoặc goá.
  • Nghề nghiệp: thất nghiệp.
  • Những bệnh cơ thể nặng : có thể là nguyên nhân của tự sát "cân nhắc".
  • Có toan tự sát trong tiền sử là một trong các yếu tố quan trọng nhất gây ra nguy cơ tự sát bất kể do nguyên nhân gì gây ra.

2.3. Thái độ xử trí.

Có một vài tình huống trong đó bác sỹ đánh giá bệnh nhân với toan tự sát:

  • Bệnh nhân được mang đến bệnh viện bởi một toan tự sát gần đây.
  • Bệnh nhân tự đến một mình do có xung động tự huỷ hoại.
  • Bệnh nhân có rối loạn tâm thần đã được biết có ý định hoặc kế hoạch để tự sát .

Khi phỏng vấn lâm sàng cần hỏi về tất cả các mặt có thể một cách tế nhị không áp đặt trên hành vi hoặc ý định tự sát. Cần đánh giá các nguyên nhân có thể:    

  • Có rối loạn tâm thần (trầm cảm, tâm thần phân liệt, các bệnh loạn thần khác, sử dụng ma tuý hoặc rượu).
  • Có toan tự sát trong tiền sử.
  • Có chấn thương tâm lý trong thời gian gần đây.
  • Có các sự kiện xã hội liên quan.

Cần phải thu thập các thông tin về toan tự sát hoặc chiều hướng tự sát, về loại nhân cách, về chức năng xã hội trước khi bị bệnh, nghề nghiệp, gia đình về bệnh cơ thể và tiền sử tâm thần của gia đình. Trên cơ sở các thông tin này sẽ đánh giá tiềm năng tự sát của bệnh nhân và sẽ chỉ định nhập viện điều trị. Trong các trường hợp nguy cơ tự sát tiếp tục tồn tại và bệnh nhân từ chối nhập viện, bệnh nhân sẽ bị cưỡng bức vào viện.                     

Điều trị bằng thuốc và tâm lý sẽ trên cơ sở nguyên nhân gây ra hành vi tự sát. Bên cạnh đó, giữ tâm lý ổn định của bệnh nhân, áp dụng liệu pháp gia đình có vai trò quan trọng trong sự phát triển tiếp theo của bệnh nhân.                   

 

3. Các trạng thái rối loạn

                3.1 Khám xét và thu thập thông tin.

Gần như là tất cả các trạng thái rối loạn có bệnh sinh thực tổn. Chúng được biểu hiện qua các trạng thái kích động và các ảo giác, bệnh nhân thường được đưa đến phòng khám bệnh của khoa tâm thần.

Bác sỹ cần thực hiện một số giai đoạn sau:

  • Cần xác định trong mức độ có thể xem bệnh nhân có phải là một trường hợp tâm thần đã biết hoặc chưa biết.
  • Thu thập tất cả các thông tin về bệnh nhân nếu có thể, bao gồm cả việc cố gắng hỏi bệnh nhân.

Trạng thái rối loạn được biểu hiện lâm sàng bởi:

  • Mất định hướng không gian.
  • Rối loạn chú ý.
  • Nói không phù hợp.
  • Có ảo giác và ảo tưởng.
  • Ý thức giao động từ buồn ngủ tới quá tỉnh táo phối hợp với kích động tâm thần vận động.

Khám cơ thể cần làm đầy đủ, cần đánh giá các chức năng sống (huyết áp, tim mạch, hô hấp). Cần có một sự chú ý đặc biệt với:

  • Các dấu hiệu có thể là do một chấn thương sọ não gần đây.
  • Các dấu hiệu của viêm màng não.
  • Các dấu hiệu thần kinh khư trú.
  • Các rối loạn cảm giác.
  • Các rối loạn cân bằng.
  • Các cơn co giật.
  • Sốt.
  • Tăng trương lực cơ.
  • Biểu hiện của ngoại tháp.

Khám cận lâm sàng cấp cứu cần làm:

  • Công thức máu.
  • Máu lắng.
  • Điện giải đồ.
  • Ure, creatinin.
  • Các thử nghiệm tìm chất gây nghiện, rượu và thuốc.
  • Khám đáy mắt.
  • Chọc DNT, làm xét nghiệm DNT.
  • Chụp C.T. Scaner trong trường hợp cần thiết.
  • Yêu cầu khám thần kinh.

Trên cơ sở các kết quả khám lâm sàng sẽ định hướng chuyển bệnh nhân tới các khoa lâm sàng khác hay là giữ bệnh nhân lại khoa tâm thần. Trạng thái rối loạn được giữ lại khoa tâm thần là các trạng thái rối loạn thứ phát của:

  • Trạng thái cai rượu, chất gây nghiện hoặc thuốc.
  • Ngộ độc cấp.
  • Một bệnh tâm thần (hội chứng hưng cảm, tâm thần phân liệt) các tình huống này rất hiếm gặp.
  • Trạng thái rối loạn của mất trí.

Trong tình huống mà các chức năng sống quan trọng không ổn định, bệnh nhân cần được điều trị tại khoa hồi sức cấp cứu.         

3.2 Thái độ xử trí.

  • Đánh giá tiềm năng tự huỷ hoại hoặc huỷ hoại người khác mà xác định phương pháp bảo vệ cho bệnh nhân và những người khác.
  • Bệnh nhân bị bất động chỉ khi trạng thái cơ thể cho phép.
  • Cần đánh giá tình trạng lâm sàng cả về tâm thần và về tình trạng cơ thể từng giờ để đánh giá mức độ nặng của bệnh nhân.

Điều trị bệnh sinh của trạng thái rối loạn lo âu.

  • Làm an tĩnh bệnh nhân bằng Benzodiazepin (Diazepam 10 mg/ 4 giờ một lần). Có thể dùng các thuốc an thần (đường tiêm) như Haloperidol, Aminazin.
  • Cân bằng nước điện giải bằng dung dịch điện giải truyền tĩnh mạch hoặc uống.
  • Sử dụng thuốc Vitamin B1 100mg- 200mg/ngày, các thuốc Vitamin nhóm B và C.
  • Điều trị các bệnh cơ thể phối hợp.

Ngộ độc rượu cấp tính (say rượu cấp tính).

Trong trường hợp này bệnh nhân đến bệnh viện trong tình trạng kích động tâm thần vận động hoặc phá phách.       

Thái độ xử trí.

  • Cố gắng tiếp xúc với bệnh nhân.
  • Dùng thuốc an thần trong trường hợp kích động tâm thần.
  • Bất động bệnh nhân khi cần thiết.
  • Tránh dùng thuốc an thần Clopromazin gây hạ huyết áp động mạch.

Sảng rượu cấp.

Sảng rượu là 1 cấp cứu tâm thần, xuất hiện ở những bệnh nhân nghiện rượu mãn tính, sau khi ngừng uống rượu từ vài giờ đến vài ngày. Nếu không được điều trị, tỷ lệ tử vong của sảng rượu là 20% do các bệnh lý như viêm phổi, suy thận, suy gan, suy tim…

Các triệu chứng của sảng rượu cấp bao gồm 3 nhóm triệu chứng chính:

- Mất ngủ hoàn toàn.

- Hội chứng Paranoid, bệnh nhân có ảo thanh, ảo thị, hoang tưởng bị hại.

- Rối loạn ý thức từ rối loạn định hướng đến hôn mê.

                Ngoài ra bệnh nhân còn có hưng phấn vận động (thường phối hợp với ảo giác) và có thể có hành vi tự sát.

          Thái độ xử trí.

          - Điều trị toàn diện, bồi phụ nước điện giải, vitamin nhóm B liều cao.

          - Dùng Seduxen đường tiêm liều 20-40 mg/ngày.

          - Nếu hoang tưởng và ảo giác rầm rộ, dùng haloperidol phối hợp với pypolphen đường tiêm.

4. Kích động tâm thần vận động     

4.1 Nguyên nhân.

Kích động tâm thần vận động là một cấp cứu tâm thần. Phỏng vấn bệnh nhân phải cố gắng xác lập xem nếu bệnh nhân ở giai đoạn đầu của bệnh hay giai đoạn tái phát, bệnh nhân có bệnh tâm thần cũ hay không,hoặc được biết có rối loạn cơ thể hay không! Bác sỹ cần cố gắng làm bệnh nhân yên tĩnh, đảm bảo với bệnh nhân là hiểu họ và giúp đỡ bệnh nhân. Cần lưu ý rằng, rất thường gặp trong trạng thái kích động tâm thần vận động, bệnh nhân có thể hành hung mọi người.

Trong giai đoạn tiếp theo, cần xác định xem nếu kích động tâm thần vận động là hậu quả của một bệnh cơ thể hoặc bệnh tâm thần hay không. Cần phải khám cơ thể và các xét nghiệm cận lâm sàng như trong trạng thái rối loạn. Thường kích động thứ phát của một bệnh cơ thể phối hợp với trạng thái rối loạn. Kích động tâm thần vận động có thể xuất hiện trong:

  • Trạng thái rối loạn.
  • Mất trí.
  • Hội chứng hưng cảm.
  • Tâm thần phân liệt.
  • Hội chứng căng trương lực.
  • Trầm cảm.
  • Rối loạn nhân cách.
  • Chậm phát triển tâm thần.

4.2 Đặc điểm lâm sàng và xử trí.

4.2.1 Kích động do mất trí được phối hợp với:

  • Rối loạn nhận thức chung.
  • Rối loạn định hướng không gian.
  • Có thể có hay không rối loạn ý thức, trong trường hợp có trạng thái rối loạn, kích động đặc biệt hay xuất hiện về đêm.

Thái độ xử trí.

  • Không bất động bệnh nhân, đặc biệt khi trạng thái cơ thể bị suy kiệt.
  • Dùng thuốc Benzodiazepin 10- 30mg/ngày, Haloperidol 5-10mg/ngày, Resperidon 2-4mg/ngày.
  • Cần chú ý tới tình trạng cơ thể của bệnh nhân.

4.2.2 Kích động do hội chứng hưng cảm.

  • Bệnh nhân rối loạn phối hợp, gây ồn ào, tăng hoạt động, kích động và thậm trí hung hăng, đó là nguyên nhân mà gia đình hoặc cảnh sát cho bệnh nhân vào viện.
  • Bệnh nhân chống lại việc vào viện, không chấp nhận việc phân tích tình trạng bệnh hiện tại, bệnh nhân tự cảm thấy mình rất khoẻ mạnh và không hiểu tại sao cần phải vào viện.
  • Bệnh nhân cáu gắt và có thể phát triển thành phản ứng bạo lực một cách dễ dàng, đó là nguyên nhân tại sao nhân viên y tế cần thận trọng, không chống lại bệnh nhân.

Đánh giá lâm sàng cần làm trên cơ sở có thể, để loại trừ các nguyên nhân thực tổn của trạng thái mất ức chế và bệnh cơ thể đồng thời có. Hội chứng hưng cảm cùng kích động tâm thần  vận động thể hiện một cấp cứu cần phải điều trị nội trú. Phải cố gắng thuyết phục bệnh nhân chấp nhận vào viện. Trong trường hợp bệnh nhân có kích động và bạo lực cần quyết định cố định bệnh nhân một cách cẩn thận.

Vào viện phải được thực hiện trong trường hợp mà hành vi bị mất ức chế, tăng việc làm hại về tài chính, xã hội và đạo đức của bệnh nhân (tiêu tiền quá nhiều, uống rượu hoặc ma tuý, hành vi tình dục mất ức chế).

Điều trị bằng thuốc an thần an dịu (Clopromazin 400- 600mg/ngày, Haloperidol 10- 12mg/ngày). Trong trường hợp kích động tâm thần vận động nặng, có thể dùng liệu pháp Sôc điện.

4.2.3 Kích động do tâm thần phân liệt.

Kích động tâm thần vận động có thể xảy ra ở tất cả các thể của tâm thần phân liệt, cả trong giai đoạn khởi phát và trong giai đoạn phát triển của bệnh. Biểu hiện của kích động là lý do phải vào viện cấp cứu của bệnh nhân.

Trong các trường hợp này phải lưu ý đến:

  • Phối hợp với ảo giác.
  • Phối hợp với hoang tưởng.
  • Kỳ dị và không có nguyên nhân gây kích động.
  • Nếu như được phối hợp với các dấu hiệu của căng trương lực.
  • Nếu như được phối hợp với sử dụng ma tuý.
  • Nếu như là thứ phát của sử dụng thuốc an thần.
  • Nếu như rối loạn ý thức được biểu hiện (trong trường hợp này bệnh nhân cần được khám toàn thân cẩn thận).
  • Nếu như có tiềm năng tự huỷ hoại bản thân hoặc gây thương tích cho người khác.

Liệu pháp can thiệp.

  • Cho bệnh nhân vào viện.
  • Dùng các thuốc an thần mạnh.
  • áp dụng liệu pháp bất động phù hợp.
  • Trong trường hợp nặng cần dùng Sôc điện.
  • Đảm bảo thể trạng của bệnh nhân.
  • Theo dõi thường xuyên bệnh nhân cho tới khi hết tình trạng kích động.
4.2.4 Kích động do hội chứng căng trương lực.                                                           

Trong trường hợp này, bên cạnh kích động còn biểu hiện đa chiều, phủ định, căng trương lực cơ. Kích động là tự động, không xuất phát từ các kích thích bên ngoài, hoang tưởng hoặc ảo giác là rất kỳ dị. Bệnh nhân thể hiện tư duy không phù hợp hoặc phủ định lời nói. Phối hợp với phủ định thức ăn, từ chối uống nước và mất ngủ. Kích động rất nặng nề biểu hiện cả ngày lẫn đêm. Bệnh nhân mất nước nhanh, xuất hiện rối loạn nước điện giải, sốt và các biến chứng cơ thể khác.

Thái độ xử trí.

  • Phát hiện các nguyên nhân thực tổn bằng khám lâm sàng, cận lâm sàng.
  • Bất động bệnh nhân .
  • Đảm bảo tốt dinh dưỡng và nước uống cho bệnh nhân.
  • Dùng thuốc an thần mạnh.
  • Dùng Sốc điện trong trường hợp trạng thái kích động bền vững và xuất hiện các dấu hiệu mất nước.

4.2.5 Kích động trầm cảm.

Phối hợp với các dấu hiệu khác của rối loạn này:

Trầm cảm, mất sức sống, giảm tự tin, mất hy vọng, có ý định tự sát, ý tưởng bị tội. Trong trường hợp trầm cảm có kích động tâm thần vận động, bệnh nhân thường phối hợp với thầy thuốc và tự vào viện. Trong bất kỳ trường hợp nào cũng nên cho vào viện vì bệnh nhân có tiềm năng tự sát rất cao.

Thái độ xử trí.

  • Dùng thuốc an thần an dịu phối hợp với thuốc chống trầm cảm.
  • Có thể dùng Sốc điện.
  • Giữ vững tâm lý cho bệnh nhân.

4.2.6 Kích động do rối loạn nhân cách. 

Được đặc trưng bởi:

  • Bùng nổ với những kích thích nhỏ từ bên ngoài.
  • Phối hợp với hành vi bạo lực.
  • Thái độ thù địch với nhân viên y tế.
  • Phức tạp thêm do dùng ma tuý hoặc nghiện rượu.
  • Phối hợp với nguy cơ tự sát.

Rối loạn nhân cách thường phối hợp với trạng thái kích độngvà rối loạn nhân cách thể gianh giới, rối loạn nhân cách thể Isteria và thể chống đối xã hội.

Thái độ xử trí.

  • Cần nhập viện.
  • Trong trường hợp bệnh nhân chống lại việc nhập viện rất khó quyết định vào viện chống lại ý chí của bệnh nhân do pháp luật không cho phép và thực tế là rối loạn nhân cách không phải là một bệnh.
  • Dùng thuốc an dịu.

          5. Cơn tấn công hoảng sợ.

          Tấn công hoảng sợ biểu hiện bởi cơn bùng nổ lo âu phối hợp với các biểu hiện thần kinh thực vật mạnh và cảm giác sắp chết hoặc mất kiểm soát tâm thần. Khác với các cấp cứu tâm thần khác, trong tấn công hoảng sợ, bệnh nhân hợp tác với bác sỹ, có nhu cầu chăm sóc y tế. Thường họ tự tìm đến phòng khám bệnh của bệnh viện.

          Thái độ xử trí:

  • Loại trừ nguyên nhân thực tổn phối hợp với lo âu (nhồi máu cơ tim, phù phổi...).
  • Làm yên tĩnh bệnh nhân, bảo đảm rằng họ không ở trong một nguy hiểm nào, rằng triệu chứng có căn nguyên tâm thần.
  • Bệnh nhân được học cách tự kiểm soát nhịp hô hấp (tránh nhiễm toan máu).
  • Dùng thuốc bình thần (Diazepam, Alprazolam).
  • Trong trường hợp có kích động nặng nề, có thể dùng thuốc an thần an dịu (Clopromazin).

Dù sao thì độ dài của một cơn hoảng sợ là có giới hạn, cần nhanh chóng dùng thuốc chống trầm cảm có hiệu quả và có thể ngăn chặn tái phát của các cơn tấn công hoảng sợ.

6. Các trạng thái phân ly.

Các trạng thái phân ly thường gặp ở phòng khám bệnh của bệnh viện. Được biểu hiện bởi sững sờ phản ứng, bỏ chạy, phân ly, các cơn mất ý thức phân ly. Vấn đề chủ yếu đặt ra trong trường hợp này là chẩn đoán phân biệt với những bệnh cơ thể (động kinh thái dương, tai biến mạch máu não, chấn thương sọ não).

Chẩn đoán cần được quyết định bởi:

  • Khám lâm sàng và cận lâm sàng.
  • Liên quan trực tiếp với một yếu tố chấn thương tâm lý.
  • Biểu hiện đóng kịch của bệnh nhân.
  • Đáp ứng nhanh với liệu pháp ám thị.
  • Đáp ứng dương tính với liệu pháp giải mẫn cảm với Amital Natri.

     7. Bạo lực.

          7.1 Lâm sàng.

          Bạo lực là một triệu chứng có thể xuất hiện phối hợp hoặc không với trạng thái kích động tâm thần vận động. Rất khó phân biệt được tại một thời điểm bệnh nhân tâm  thần có thể trở thành bạo lực hay không.

          Các yếu tố phối hợp với bạo lực là tuổi trong phạm vi 20- 30 tuổi, hội chứng hưng cảm và sử dụng ma tuý thường phối hợp với bạo lực. Trong tâm thần phân liệt, bạo lực xuất hiện trong giai đoạn muộn của bệnh thường xuyên hơn là giai đoạn sớm của bệnh. Giới tính nam hay gặp hơn giới tính nữ.

          Bạo lực thường xuất hiện trong:

  • Loạn thần cấp hoặc mãn tính.
  • Sử dụng hoặc trạng thái cai ma tuý rượu.
  • Rối loạn nhân cách thể gianh giới hoặc chống xã hội.
  • Rối loạn bùng nổ không liên tục.
  • Động kinh.

Khi đánh giá nguy cơ bạo lực trên lâm sàng, bác sỹ cần chú ý:

  • Tiền sử các giai đoạn bạo lực trước đây của bệnh nhân.
  • Biểu hiện cáu gắt quá mức và nói quá nhiều trong hội chứng hưng cảm, có thể là dấu hiệu của sự xuất hiện cáu giận trong hội chứng hưng cảm.
  • Biểu hiện chậm phát triển tâm thần, phối hợp với kích động tâm thần vận động và bạo lực không trực tiếp.
  • Trình độ văn hoá thấp.
  • Biểu hiện ngộ độc rượu hoặc ma tuý cấp.
  • Biểu hiện triệu chứng tổn thương thực thể ở não.
  • Biểu hiện rối loạn nhân cách.

Trong trầm cảm có loạn thần, có dạng bạo lực đặc biệt tên là "giết người cao thượng" mà các bác sỹ tâm thần không được bỏ sót. Trầm cảm có hoang tưởng thảm hoạ thế giới hoặc gia đình bệnh nhân sẽ tự giết các người thân (thường là trẻ em) để tránh cho họ các thảm hoạ. Một dạng giết người khác có thể xuất hiện trong trầm cảm loạn thần sau đẻ với hiện tượng giết trẻ sơ sinh. Trong loạn thần Paranoid, hành vi bạo lực được lập kế hoặch tỷ mỷ bởi sự chi phối của hoang tưởng. Kế hoặch này có thể bộc lộ khi khám lâm sàng.

7.2 Thái độ xử trí:

Trong lúc đối thoại cùng bệnh nhân cần cố gắng giữ bình tĩnh cho họ, đảm bảo rằng không có chuyện gì xảy ra và thuyết phục họ nhận sự giúp đỡ cần thiết. Bác sỹ cũng phải bình tĩnh khi đó. Trong các tình huống bệnh nhân có vũ trang (dao, súng) và không thể thuyết phục họ bỏ vũ khí, yêu cầu sự giúp đỡ của cảnh sát và những người có tránh nhiệm. Nếu việc làm đó là không thể và bệnh nhân rời phòng khám bệnh phải thông báo cho cảnh sát. Lưu ý rằng trong trường hợp này, bác sỹ và nhân viên y tế không được cố bất động hoặc tước vũ khí của bệnh nhân. Trong trường hợp có thể bất động được bệnh nhân bạo lực, dùng thuốc an thần như Aminazin, Haloperidol đường tiêm có thể phối hợp với Benzodiazepin.